Hiện
Chính phủ đã quyết định xây dựng 15 khu kinh tế ven biển, hơn 200 khu
công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu trong cả nước, nhưng trên thực tế chưa
có một khu nào thực sự là khu kinh tế mở, mà hầu hết mới chỉ là các khu
công nghiệp với nhiều hạn chế.
Theo
khuyến nghị của GS.TSKH Võ Đại Lược, có 6 loại hình khu kinh tế tự do
mà Việt Nam có thể áp dụng gồm: Đô thị quốc tế, đặc khu kinh tế, thành
phố mở cửa, khu thương mại tự do (hay phi thuế quan), khu kinh tế mở và
cảng tự do. Hiện khu thương mại tự do, khu kinh tế mở ở Việt Nam đã được thừa nhận và có một số quy chế pháp lý để xây dựng. Song các loại khác đến nay vẫn chưa được xây dựng.
Tiêu chí đầu tiên để xây dựng khu kinh tế tự do ở Việt Nam,
theoGS.TSKH Võ Đại Lược: Đó là vị trí địa lý. Cho đến nay, hơn 80% buôn
bán của thế giới vẫn phải vận tải bằng đường biển, do đó khu kinh tế
càng xa cảng biển, xa đường hàng hải quốc tế thì càng kém lợi thế so
sánh. Ngoài ra, khu kinh tế còn phải gần các trung tâm kinh tế, dịch vụ,
văn hóa phát triển vì đây là chỗ dựa bước đầu của các khu kinh tế.
Chẳng hạn tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc nhờ có lợi thế rất tốt về địa lý
mà Chính phủ nước này đã xây dựng ở đây tới 3 đặc khu trong tổng số 5
đặc khu của cả nước. Trong khi Hồng Kông và Singapore lại phát triển dựa
vào các trung tâm phát triển Âu, Mỹ. Ở nước ta có 4 trục địa lý được
nhiều nhà đầu tư nước ngoài chú ý là: TP HCM - Bình Dương - Đồng Nai -
Bà Rịa Vũng Tàu; Hà Nội - Bắc Ninh - Hải Dương - Hưng Yên - Hải Phòng -
Quảng Ninh; Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa; Huế - Đà Nẵng khai thông
với Lào và Thái Lan. Xây dựng các khu kinh tế theo các trục địa lý này
sẽ là hướng đi đúng đắn.
Ngoài
yếu tố địa lý, tiêu chí về thể chế và hành chính cũng có ý nghĩa sống
còn đối với việc xây dựng khu kinh tế tự do. Chính phủ cần tạo lập những
thể chế hành chính và kinh tế hiện đại vượt trội tại một số khu vực
theo hướng giảm thiểu tối đa sự can thiệp của Nhà nước, phát huy hiệu
quả nhất tác động của thị trường, trao quyền kinh tế đầy đủ cho tất cả
doanh nghiệp. Cùng với đó là giải quyết "nút thắt" cơ sở hạ tầng. Ngoài
ra, những khu kinh tế tự do còn phải là "mảnh đất lành" thu hút các nhân
lực chất lượng cao. Nếu tập trung nỗ lực đầu tư thì một số thành phố
ven biển của Việt Nam có thể có sức hấp dẫn nhân tài ngang tầm thế giới trong vòng 15 - 20 năm.
Cũng
theo GS.TSKH Võ Đại Lược, khi xây dựng khu kinh tế tự do cần phải đặt
trong tổng thể quy hoạch phát triển liên hoàn của một vùng hay một tuyến
tăng trưởng để có thể tận dụng được lợi thế phát triển của thế giới,
tạo ra sức lan tỏa rộng. Nếu căn cứ vào 5 tiêu chí vừa nêu thì xem ra
các khu kinh tế của Việt Nam
vẫn còn khá nhiều khiếm khuyết. Điều này lý giải vì sao chúng ta chưa
có những khu kinh tế tự do thực thụ đủ sức gắn kết các vùng kinh tế
trong cả nước, là cực tăng trưởng đi đầu.