Thời gian gần đây, vấn đề phát triển kinh tế phải đi
đôi với bảo vệ môi trường được dư luận đặc biệt quan tâm. Và không ít sự
việc sức “căng” đã bị đẩy lên quá mức, thậm chí gây hoang mang không
đáng có. Tình trạng này có nguyên nhân từ cả hai phía: Phía doanh nghiệp
chưa nhận thấy việc cung cấp đầy đủ thông tin về dự án cho xã hội là
trách nhiệm của mình. Phía cơ quan quản lý nhà nước lại bị động trước
yêu cầu thông tin của xã hội nên xử lý vấn đề còn lúng túng.
Mặt khác, việc đưa thông tin trên các phương tiện
thông tin đại chúng đa phần còn một chiều, theo suy nghĩ chủ quan chứ
chưa đặt vấn đề vào đúng vị trí và mối tương quan phát triển kinh tế -
xã hội trong nước và hội nhập quốc tế toàn diện hiện nay.
Xin đơn cử một ví dụ về khai thác tài nguyên khoáng
sản phục vụ phát triển kinh tế của đất nước. Chúng ta đều biết để có
được cơ ngơi kinh tế và vị thế như ngày nay, các nước thuộc nhóm G7 đã
có gần 300 năm tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong quá trình
phát triển đó, nhiều diễn biến tương tự về yêu cầu xử lý mối quan hệ
giữa phát triển và bảo tồn tự nhiên đã xảy ra và được xử lý.
Ngay từ những năm đầu thế kỷ 18, một nhà quản lý mỏ
than tại vùng Sachsen (CHLB Đức), Hans-Carl von Carlowitr trong luận án
năm 1713 của mình, đã phát hiện ra mối liên hệ giữa sự gia tăng nhu cầu
về gỗ đối với công nghiệp hầm mỏ dẫn đến việc phá rừng.
Một kết luận được đưa ra là phải kết hợp mục tiêu tăng
trưởng kinh tế với tốc độ hợp lý, phù hợp với việc sử dụng rừng dài
hạn. Hay nói cách đơn giản là lượng gỗ khai thác không được vượt quá tỷ
lệ sinh trưởng của cây rừng. Vào thời điểm này, quá trình tích lũy tư
bản trên thế giới đang diễn ra rất khẩn trương trên cơ sở một xã hội
thông tin chưa phát triển. Vì vậy, người làm công tác quản lý nhà nước
vẫn ưu tiên cho khai thác mỏ.
Ý tưởng phát triển bền vững lại một lần nữa xuất hiện
vào cuối thế kỷ 20 trong lĩnh vực đánh bắt cá đại dương. Sau nhiều thập
kỷ tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật về đóng tàu, về điện tử, ngành
đánh bắt cá đã không ngừng nâng cao sản lượng khai thác từ biển nhưng đi
kèm theo đó là chi phí cho 1kg cá đánh bắt được ngày càng cao do chi
phí chuyến đi ngày càng lớn, lượng cá ngày càng giảm.
Vào những năm của thập kỷ 80, các cường quốc đánh bắt
cá đại dương đã phải nhóm họp lại và ký thỏa thuận: Việc đánh bắt cá
phải dựa vào quá trình sinh sản của nguồn cá để đảm bảo sản lượng khai
thác tối đa dài hạn.
Qua 2 ví dụ ở hai thời điểm cách nhau gần 300 năm với
những ngành nghề, bối cảnh xã hội cũng như trình độ khoa học công nghệ,
thông tin (báo giấy so sánh với truyền hình) khác nhau, một kết luận
chung theo góc nhìn của người nghiên cứu kinh tế là: Phát triển kinh tế
phải từ tiền lãi chứ không được tiêu lạm vào vốn gốc.
Và như vậy, một vấn đề được đặt ra cần được làm rõ:
Giới hạn của điểm hòa vốn trong đầu tư phát triển được xác định như thế
nào? Điểm hòa vốn đó có thay đổi theo sự phát triển của xã hội không?
Nếu cùng một loại hình sản xuất thì điểm hòa vốn trong xã hội thông tin
bằng truyền hình có khác trong xã hội thông tin mạng không?
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế thì câu trả lời là
có sự khác nhau. Sự phát triển của truyền hình đã làm phân hóa nội bộ
nước Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, khi người dân Mỹ hàng ngày thấy cảnh
con em mình đốt nhà, sát hại thường dân trong cuộc chiến gọi là bảo vệ
nước Mỹ ở nơi cách họ nửa vòng trái đất.
Ngày nay, khi mạng Internet phát triển thì sự tác động
ngày càng lớn. Vụ bạo động tại Tân Cương – Trung Quốc vừa qua được phát
động dựa trên một thông tin sai lệch, được sử dụng với ý đồ xấu luôn
nhắc nhở chúng ta phải đặt vấn đề trao đổi trong mối quan hệ biện chứng
của nó. Với xuất phát điểm như vậy cần tập trung hướng nghiên cứu để trả
lời câu hỏi về điểm hòa vốn đã nêu ở trên.
Ở nước ta, 26 nhóm chỉ tiêu hàng năm được Quốc hội
thông qua chia thành ba nhóm: kinh tế, xã hội và môi trường. Điều đó
chứng tỏ rằng chúng ta đã có ý thức tiếp thu kinh nghiệm của các nước đi
trước để vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta: Đất nước đang thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh công nghệ cũ – công
nghệ tiên tiến đan xen ở trong nước, hội nhập quốc tế sâu rộng qua công
nghệ thông tin và hoạt động xuất nhập khẩu.
Với ba nhóm vấn đề kinh tế, xã hội, sinh thái (bao gồm
cả vấn đề môi trường) theo quan điểm tác giả bài viết này cần được
lượng hóa các yếu tố và sự tác động tương tác của các nhóm vấn đề này
theo mô hình sau:
Theo mô hình tam giác này giúp cho người ra quyết định
đầu tư nhận rõ mình đang xử lý vấn đề theo hướng ưu tiên nào để cung
cấp thông tin cho xã hội, thông qua đó xã hội giám sát lại hoạt động đầu
tư của doanh nghiệp. Ví dụ việc tiến hành xây dựng một tuyến quốc lộ có
thể sẽ làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên nhưng nó lại tạo ra nhiều
vốn vật chất và tinh thần hơn cho cư dân sử dụng con đường đó.
Sự phân tích như thế khi áp dụng vào mô hình tam giác
phát triển ở trên cho thấy dự án làm đường đáp ứng được hai chỉ tiêu về
phát triển kinh tế và xã hội. Và lúc này vai trò của người quản lý xuất
hiện để giám sát, kiểm kê thường xuyên nguồn tài nguyên rừng trong trạng
thái cân bằng mới, tạm gọi là bền vững yếu của môi trường sống. Với
phương pháp tư duy như vậy, chúng ta có thể xác định được nguyên tắc
phát triển bền vững thông qua một chỉ tiêu là khí thải như mô hình sau:
Với mỗi đỉnh của tam giác này có một yêu cầu riêng:
- Với phát khí thải: Yêu cầu đặt ra là lượng khí
thải của toàn bộ nền kinh tế không được vượt quá khả năng hấp thu của hệ
sinh thái của quốc gia.
- Với tài nguyên tái tạo thì yêu cầu mức tiêu thụ
nhỏ hơn khả năng tái tạo hay nói cách khác cầu phải nhỏ hơn cung.
- Với tài nguyên không tái tạo thì việc sử dụng phải
gắn liền với nghiên cứu tài nguyên thay thế và không được phá vỡ cân
bằng sinh thái tự nhiên.
Với cách lý giải như vậy, trong từng vấn đề lại tiếp
tục xác định rõ yếu tố định lượng để xây dựng kế hoạch hằng năm, 5 năm
như: Nhập khẩu công nghệ nào, số lượng bao nhiêu, trồng bao nhiêu rừng,
giữ bao nhiêu nước,…
Qua một vài vấn đề vừa đặt ra để cùng trao đổi, xử lý
thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một xã hội đang được
“số hóa” một cách nhanh chóng. Trước các vấn đề đặt ra của cuộc sống
ngày càng sôi động, hy vọng các doanh nghiệp, người làm công tác quản lý
nhà nước cùng phối hợp để xử lý theo hướng bền vững.
TS Nguyễn Đức Kiên-VNE
Ủy
viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội