- Theo ông Đỗ Ngọc Quỳnh – Tổng thư ký Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam, năm 2010 thị trường trái phiếu sơ cấp đã đạt được những kết quả khả quan với gần 110.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ được huy động và 47.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp. Trong quý I/2010, thị trường TPCP sơ cấp
hoạt động không mấy thành công do biến động về tỷ giá cũng như nền kinh
tế vĩ mô chưa ổn định. Tuy nhiên, hoạt động trái phiếu sôi động nhất là
quý I và quý III năm 2010. Theo thống kê của Kho bạc Nhà nước, đến hết
tháng 10 Kho bạc Nhà nước đã phát hành được trên 68,4 nghìn tỷ đồng,
bằng 68,4% kế hoạch năm.
Trên thị trường thứ cấp, sự ra đời của thị trường trái phiếu chuyên biệt
của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội từ cuối năm 2009 cũng đã bước đầu
tạo ra những điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Hiện đã có trên 100 mã
trái phiếu mới được niêm yết, giá trị niêm yết tăng 52 nghìn tỷ đồng
(32%) so với năm 2009.
Tuy nhiên, hoạt động của thị trường trái phiếu chững lại vào quý IV,
theo lý giải của ông Đỗ Ngọc Quỳnh, trái phiếu là công cụ nợ dài hạn và
có lãi suất cố định nên thị trường trường trái phiếu rất nhạy cảm với
các diễn biến của tình hình kinh tế vĩ mô, đặc biệt là tình hình lạm
phát, lãi suất và tỷ giá.
“Bước sang quí IV, tình hình lạm phát đã có diễn biến bất lợi theo hướng
vượt ra ngoài mức lạm phát mục tiêu, lãi suất huy động và cho vay đã
tăng mạnh trở lại. Ngân hàng Nhà nước đã bất ngờ tăng lãi suất cơ bản từ
8% lên 9% và tín hiệu thực hiện các chính sách thắt chặt tiền tệ để
kiểm soát lạm phát đã được phát đi…Trong điều kiện đó, Bộ Tài chính cũng
chưa xem xét để có điều chỉnh mức lãi suất trần phù hợp với diễn biến
thị trường lãi suất nên Quý IV đã không còn được tốt như các quý trước.”
– ông Đỗ Ngọc Quỳnh lý giải.
Ngân hàng mua trái phiếu không ảnh hưởng đến nguồn tiền cho vay
Năm 2010 cũng chứng kiến nhiều ngân hàng thương mại dùng tiền để mua vào
trái phiếu Chính phủ, sau đó đem cầm cố trên thị trường mở (OMO) để vay
với lãi suất thấp hơn, và cho các ngân hàng khác vay lại để hưởng
chênh lệch lãi suất. Thực tế này đã được các chuyên gia cảnh báo có thể
sẽ là nguyên nhân gây khan hiếm nguồn vốn cho các DN.
Tuy nhiên, ông Đỗ Ngọc Quỳnh cho rằng tỷ lệ phần trăm trong tổng tài sản
của các ngân hàng tại Việt Nam đầu tư vào trái phiếu chiếm tỷ lệ không
nhiều, chỉ khoảng 10% tổng tài sản. Với tỷ lệ như vậy thì lãi suất trái
phiếu có thể tác động phần nào lên lãi suất cho vay nhưng tuyệt nhiên nó
không thể là nhân tố chính hay rào cản để giảm lãi suất cho vay của các
ngân hàng trong thời gian qua.
“Không phải khi mua được mười đồng trái phiếu là ngân hàng đó có thể đem
ngay cả mười đồng đó lên thị trường mở của NHNN và vay ngay về một số
vốn tương ứng. Trong mỗi phiên giao dịch của thị trường mở sẽ có rất
nhiều các ngân hàng tham gia, chính vì thế, có nhiều ngân hàng bỏ ra
1.000 tỷ đồng mua trái phiếu để tham gia thị trường OMO nhưng chỉ vay
được khoảng 200 triệu từ thị trường này là chuyện bình thường.” – ông Đỗ
Ngọc Quỳnh nói.
Cũng theo ông Quỳnh, bản thân các ngân hàng nếu chọn phương án mua trái
phiếu chỉ để kinh doanh trên OMO thị trường mở là một phương án kinh
doanh khá mạo hiểm vì kỳ hạn tại thị trường OMO là kỳ hạn ngắn chỉ
khoảng 7 đến hơn 20 ngày trong khi trái phiếu là tài sản có kỳ hạn dài,
có độ nhạy rủi ro cao với các biến động kinh tế vĩ mô và tính thanh
khoản thị trường trái phiếu Việt Nam còn hạn chế.
Việc thực hiện các yêu cầu cao hơn về các chỉ số đảm bảo thanh khoản như
tỷ lệ cho vay/huy động, chỉ số thanh khoản ngắn hạn… theo qui định tại
Thông tư 13 và Thông tư 19 của NHNN đã khiến nguồn tiền dự trữ thanh
khoản của các ngân hàng so với trước kia là nhiều hơn. Trong khi đó, các
ngân hàng có thể sử dụng nguồn tiền đó để mua trái phiếu và việc đầu tư
này cải thiện được chỉ số thanh khoản của họ. Như vậy, không phải NH
dành nguồn tiền đó để mua trái phiếu và không có tiền cho vay ra đối với
các DN.