- Xin ông cho biết, tại sao Chính phủ lại quyết định can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối trong giai đoạn hiện nay?
- Những căng thẳng trên thị trường ngoại hối những
ngày qua là điều ai cũng thấy. Hôm 3/11, tỷ giá trên thị trường chợ đen
có lúc đã lên tới 21.000 đồng một USD. Ngay trên thị trường liên ngân
hàng, tỷ giá cũng lên tới 19.880 đồng đổi một USD, vượt xa trần 19.500
đồng mà Ngân hàng Nhà nước công bố. Tại các tổ chức tín dụng, tuy vẫn
niêm yết giá bán, mua bằng nhau, sát trần, nhưng kỳ thực đều vượt xa
trần. Bản thân các ngân hàng cũng không có ngoại tệ mà bán, chứ không
phải họ găm giữ. Vì trạng thái ngoại tệ của họ từ mức 3% đã tụt xuống
1%, có ngày xuống gần 0%.
Trong khi đó, thâm hụt cán cân thanh toán của Việt Nam
trong năm 2010 chỉ khoảng 4 tỷ USD, bằng non nửa 2009 (năm 2011 còn
được dự báo là thặng dư 1-2 tỷ USD). Nhập siêu, nếu tính xông xênh thì
khoảng 12-12,5 tỷ USD, thấp hơn mục tiêu cho phép. Đặt trong bối cảnh
USD đang mất giá so với hầu hết các đồng tiền khác thì việc tỷ giá đồng
Việt Nam như vậy rõ ràng là một sự “ngược dòng” khó chấp nhận.
Quan trọng hơn, sự tăng giá này kéo theo nhiều hệ lụy
khác. Chẳng hạn giá vàng thế giới tăng, cộng với biến động tỷ giá sẽ đẩy
giá trong nước leo thang. Giá cả hàng hóa cũng diễn biến tương tự bởi
chi phí nhập khẩu tăng lên. Kiểm soát CPI, rồi xuất - nhập khẩu cũng bị
ảnh hưởng. Do đó, nền kinh tế sẽ phải chịu nhiều bất ổn nếu Chính phủ
không có thái độ đúng về vấn đề tỷ giá.
- Thời gian qua, khi căng thẳng, thị trường thường
kỳ vọng vào việc Ngân hàng Nhà nước sẽ điều chỉnh tỷ giá. Tại sao
phương án này lại không được áp dụng trong lần can thiệp này?
- Việc thị trường ngoại hối căng thẳng vào cuối năm đã được dự báo từ lâu, đặc biệt là khi các doanh nghiệp tăng vay USD
hồi đầu năm để bán lấy tiền đồng. Hiện tượng này tạo ra nguồn cung đôla
Mỹ ngắn hạn nhưng lại tạo ra áp lực cho thị trường vào cuối năm, khi
các khoản vay đáo hạn. Trong khi đó, tình trạng găm giữ ngoại tệ trong
dân không có dấu hiệu thuyên giảm do lạm phát vẫn ở mức cao.
Một chi tiết đáng chú ý là số dư tiền gửi tiết kiệm
trong dân giảm 45.000 tỷ đồng chỉ trong 15 ngày đầu tháng 10. Chuyện
người dân đem toàn bộ số tiền tương đương hơn 2 tỷ USD này đi mua vàng
hay đôla Mỹ là khó xảy ra.
Đứng trước thực tế như vậy, việc điều chỉnh tỷ giá lúc
này là không có lợi, không phải là công cụ để tăng xuất khẩu, hạn chế
nhập siêu… Trong khi đó, lại ảnh hưởng tới tâm lý người dân, gây ra ảnh
hưởng dây chuyền.
Chính vì lý do này, Thường trực Chính phủ đã chỉ đạo
sẽ không đặt ra vấn đề điều chỉnh tỷ giá, ít nhất là cho tới Tết Nguyên
đán năm 2011.
- Không điều chỉnh tỷ giá nhưng một trong những
biện pháp được Thường trực Chính phủ chỉ đạo thực hiện là để lãi suất
tiền đồng áp dụng theo cơ chế thị trường, thay vì kêu gọi các ngân hàng
giảm lãi suất như trước. Ông đánh giá như thế nào về tác động của chính
sách này?
- Khi để lãi suất áp dụng theo cơ chế thị trường tức
là chấp nhận lãi suất tăng chứ không phải Chính phủ muốn kéo lãi suất
lên. Giống như bất cứ một công cụ tài chính - tiền tệ nào, việc để lãi
suất cao cũng có 2 mặt của nó. Về tích cực, nó đáp ứng được nhu cầu vay
và cho vay theo thực tế thị trường, giảm áp lực lên tỷ giá, đồng tiền
Việt sẽ có giá hơn. Thứ 3 là góp phần giảm lạm phát.
Tuy nhiên, khi tăng lãi suất cũng có nghĩa là thắt
chặt tiền tệ. Chẳng ai muốn đi vay đắt cả. Lãi suất tăng thì doanh
nghiệp và người tiêu dùng đều sẽ phải cân nhắc hơn khi vay. Nhưng chắc
chắn sẽ không có cú sốc về lãi suất như như khi doanh nghiệp đang vay hỗ
trợ lãi suất 6,5% năm 2009, chuyển qua 2010 phải vay 15-16%.
Lãi suất sẽ tăng nhưng mức tăng không nhiều. Theo tính
toán của tôi thì mức huy động nằm trong khoảng 12 - 13%, các khoản phụ
phí bị loại trừ và khoảng cho vay 15 - 17%. Đây là mức mà thị trường
chấp nhận được vì trên thực tế hiện nay, lãi suất thực mà người đi vay
phải chấp nhận cũng không quá xa con số này .
- Những bất ổn gần đây của tỷ giá và thị trường
ngoại tệ có mối liên thông khá lớn với thị trường vàng. Vậy sau khi đưa
ra các giải pháp đối với ngoại tệ, cơ quan chức năng liệu có tính chuyện
“dẹp yên” thị trường vàng?
- Theo thống kê của Hội đồng vàng Thế giới, trong vòng
20 năm qua, Việt Nam nhập khẩu ròng trên dưới 1.000 tấn vàng (tương
đương khoảng 40 tỷ USD). Thực tế con số này nhiều hơn hay ít hơn thì còn
cần phải điều tra thêm. Nhưng chắc chắn có một lượng vàng không nhỏ
đang tồn tại trong dân.
Đây là một lượng vốn quan trọng mà nếu không được đưa
vào lưu thông chính thức thì hoặc là sẽ nó nằm im, không sinh lời, hoặc
sẽ lưu chuyển trên thị trường tự do, rất khó kiểm soát. Do đó, vấn đề
quản lý thị trường vàng cũng sẽ cần một giải pháp tổng thể và đang được
các cơ quan chức năng nghiên cứu.
Về ý tưởng, trước hết, muốn đưa một phương tiện thanh
toán không phải là tiền (vàng, ngoại tệ) vào ngân hàng, đầu tiên phải
giữ được ổn định đồng tiền trong nước. Có thế người ta mới tin, không
găm giữ vàng hàng những đồng tiền khác. Mức lạm phát, như vậy phải thấp.
Thứ hai là nên có một bước chuyển. Đừng vội vàng ngăn
cấm những giao dịch vàng, giao dịch ngoại tệ. Làm như vậy, ta chỉ đẩy
các phương tiện thanh toán này ra khỏi kênh chính thức, chứ thực tế nó
vẫn tồn tại trong xã hội. Ngược lại, phải tìm cách thu hút những nguồn
lực này vào ngân hàng.
Một thực tế khác, cấm sàn vàng là đúng, vì nó biến
tướng thành một kiểu đánh bạc. Tuy nhiên, việc cấm ngân hàng mở tài
khoản giao dịch vàng ở nước ngoài thì cần xem lại. Vì làm như thế, nhà
băng không thể cân bằng được rủi ro của việc huy động vàng trong nước.
Ở nhiều nước, như Mỹ chẳng hạn, có các ngân hàng vàng,
chủ yếu giải quyết nhu cầu vàng của nền kinh tế. Ở Việt Nam, cần tính
đến chuyện Ngân hàng trung ương làm nhiệm vụ người cho vay cuối cùng.
Nếu các ngân hàng thương mại huy động được vàng, đến vay chiết khấu tại
Ngân hàng Nhà nước để lấy tiền đồng thì sẽ rất tốt. Đó là một cách để
nền kinh tế có được nguồn vốn nhiều hơn và rẻ hơn. Việt Nam không thiếu
vốn nhưng vốn chưa được luân chuyển một cách hợp lý.
Theo VNE-Nhật Minh ghi